Vài nét về Thành phố Châu Đốc




Thành Phố Châu Đốc
Địa lý
Diện tích  99.95 Km
Dân số 
 Tổng cộng 157.297 người
Dân tộc  Kinh, Chăm, Hoa, Khmer
Hành chính
Quốc gia   Việt Nam
Vùng  Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh  An Giang
Thành lập  19/7/2013
Chính quyền 
 Chủ tịch UBND  Phạm Hồng Vân
 Chủ tịch HĐND  Cao Xuân Bá
 Trụ sở UBND  Số 10, đường Lê Lợi, phường Châu Phú B, Thành Phố Châu Đốc, An Giang
Phân chia hành chính  5 phường, 2 xã
Số điện thoại  076.3869031
Số fax  076.3866211
Web: Cổng thông tin điện tử thành phố Châu Đốc

Châu Đốc là một thành phố trực thuộc tỉnh An Giang, Việt Nam. , nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, sát biên giới Việt Nam với Campuchia. Châu Đốc là thành phố đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long không phải là tỉnh lị.

Vị trí địa lý

Thành phố Châu Đốc nằm trên bờ sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 245 km về phía tây, nếu chạy xe buýt mất khoảng 6 tiếng.

Phát triển đô thị

Ngày 1 tháng 9 năm 2007, thành phố được Bộ xây dựng công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh An Giang.. Ngày 19/07/2013, thủ tướng Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng ban hành nghị quyết số 86/NQ-CP về việc thành lập phường Vĩnh Ngươn thuộc thị xã Châu Đốc và thành lập thành phố Châu Đốc trực thuộc tỉnh An Giang.. Châu Đốc đang đầu tư xây dựng dự án "Thành phố lễ hội" tại phường Vĩnh Mỹ có tổng diện tích 100 ha đúng quy chuẩn đô thị loại I trong tương lai gần. Hiện tại thành phố đang chỉnh trang bộ mặt đô thị để hướng đến mục tiêu nâng cấp lên đô thị loại II vào năm 2015.

Phân chia hành chính

Thành phố Châu Đốc có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 5 phường và 2 xã:
Các đơn vị hành chính của TP. Châu Đốc
  • Các phường:
  1. Phường Châu Phú A
  2. Phường Châu Phú B
  3. Phường Núi Sam
  4. Phường Vĩnh Mỹ
  5. Phường Vĩnh Ngươn
  • Các xã:
  1. Vĩnh Châu
  2. Vĩnh Tế

Lịch sử

Thành phố Châu Đốc hình thành địa giới hành chính vào năm 1757, khi chúa Nguyễn giao cho Nguyễn Cư Trinh vào và thành lập đạo Châu Đốc cùng với đạo Tân Châu và đạo Đông Khẩu (Sa Đéc).
Sau khi vua Gia Long lên ngôi, năm 1805 đã đặt lại địa giới hành chính Châu Đốc thuộc huyện Tây Xuyên, trấn Hà Tiên, Châu Đốc lúc này gọi là Châu Đốc Tân Cương. Năm 1808, Châu Đốc thuộc huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, thuộc Gia Định thành. Năm 1815, triều Nguyễn cho xây thành Châu Đốc. Đến 1825, Châu Đốc tách riêng thành Châu Đốc trấn.
Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh, phủ Gia Định chia thành Nam Kỳ lục tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, Hà TiênAn Giang. Trấn Châu Đốc đổi thành tỉnh An Giang, tỉnh lỵ đặt tại thành Châu Đốc. Để xứng đáng là tỉnh lỵ, năm 1834 vua Minh Mạng cho triệt phá thành Châu Đốc cũ (1815) xây dựng thành Châu Đốc mới theo hình bát quái.
Năm 1868, sau khi quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, nhà cầm quyền thực dân chia Nam Kỳ thành 24 hạt Tham biện. Trong đó, hạt Châu Đốc trông coi hạt Đông Xuyên (Long Xuyên) và Sa Đéc. Ngày 30 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi hạt Tham biện thành tỉnh; chia An Giang thành 2 tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên.
Trong Cách mạng tháng Tám, lực lượng cách mạng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 24 tháng 8 năm 1945. Đến 20 tháng 01 năm 1946, quân Pháp chiếm lại Châu Đốc.
Theo sự phân chia của chính quyền Cách mạng, ngày 06 tháng 3 năm 1948, Châu Đốc thuộc huyện Châu Phú A của tỉnh Long Châu Hậu. Đến cuối năm 1950, huyện Châu Phú A thuộc huyện Long Châu Hà. Đến cuối năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm sát nhập Châu Đốc với Long Xuyên thành tỉnh An Giang, địa bàn Châu Đốc nằm trên xã Châu Phú thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Phú tỉnh An Giang. Từ năm 1957, Châu Đốc thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Năm 1964, sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách tỉnh, Châu Đốc thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đến giữa năm 1966, thành lập thị xã ủy Châu Đốc.
Mùa nước năm 1967 thực hiện chỉ đạo của Khu ủy khu 8 và Tỉnh ủy An Giang trong hội nghị mở rộng tại núi Cô Tô, Châu Đốc được chọn làm mặt trận chính của tỉnh trong chiến dịch Xuân 1968. Năm 1971, huyện Châu Phú vẫn thuộc tỉnh An Giang sau khi tách tỉnh Long Châu Hà. Cho đến tháng 5 năm 1974, huyện Châu Phú thuộc tỉnh Long Châu Hà theo Hội nghị thường trực Trung ương Cục cho đến ngày giải phóng. Tháng 2/ 1976, thị xã Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang, gồm 2 xã: Châu Phú A và Châu Phú B.
Ngày 27 tháng 01 năm 1977, nhận thêm xã Vĩnh Ngươn của huyện Châu Phú theo Quyết định số 199/TC.UB của UBND tỉnh An Giang.

Châu Đốc và trấn Châu Đốc trong bản đồ Nam Kỳ vẽ năm 1838, trích từ An Nam Đại Quốc Họa Đồ của Taberd.
  • Quyết định 181-CP ngày 25 tháng 04 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ:
  1. Chuyển xã Châu Phú A thành phường Châu Phú A.
  2. Chuyển xã Châu Phú B thành phường Châu Phú B.
  3. Sáp nhập 1/2 ấp Châu Thới 1 và 1/2 ấp Châu Thới 2 của phường Châu Phú A vào phường Châu Phú B (theo đường rãnh lòng kinh Vĩnh tế, qua lòng kinh cầu số 4 đến giữa lộ núi Sam – Châu Đốc).
  4. Tách ấp Mỹ Chánh 1, 1/2 ấp Mỹ Hòa (theo kinh đào thẳng ra sông Hậu Giang) của xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, ấp Châu Long 1, ấp Châu Long 6 của phường Châu Phú B lập thành một xã lấy tên là xã Vĩnh Mỹ.
  • Quyết định 300-CP ngày 23 tháng 08 năm 1979 của Hội đồng Bộ trưởng, sáp nhập xã Vĩnh Tế của huyện Châu Phú vào Châu Đốc.
  • Nghị định 29/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 03 năm 2002 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính:
  1. Thành lập phường Núi Sam trên cơ sở 1.397 ha diện tích tự nhiên và 21.241 nhân khẩu của xã Vĩnh Tế.
  2. Sau khi thành lập phường Núi Sam, xã Vĩnh Tế còn lại 3.121 ha diện tích tự nhiên và 5.172 nhân khẩu.
  • Nghị định 53/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 05 năm 2003 của Chính phủ:
  1. Thành lập phường Vĩnh Mỹ trên cơ sở 779,6 ha diện tích tự nhiên và 14.870 nhân khẩu của xã Vĩnh Mỹ.
  2. Đổi tên xã Vĩnh Mỹ thành xã Vĩnh Châu.
  • Nghị quyết 86/NQ-CP  ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ về việc thành lập thành phố Châu Đốc.
  1. Thành lập phường Vĩnh Ngươn trên cơ sở toàn bộ 947,30 ha diện tích tự nhiên và 7.489 nhân khẩu của xã Vĩnh Nguơn.
  2. Thành lập thành phố Châu Đốc trên cơ sở toàn bộ 10.529,05 ha diện tích tự nhiên, 157.298 nhân khẩu và 7 đơn vị hành chính cấp xã của thị xã Châu Đốc.

Dân cư, tôn giáo

Dân cư
Dân cư thành phố Châu Đốc sinh sống tập trung ở khu vực ven sông Hậu,ven Quốc lộ 91,tại các phường trung tâm thành phố,tại các khu dân cư...với cơ cấu dân số trẻ,dân cư đô thị chiếm gần 80%

Toàn cảnh Châu Đốc
Phường/Xã Năm thành lập Diện tích (km2) Dân số ( người ) Mật độ (người/km2)
P. Châu Phú A 1977 5,24 28.321 5404
P. Châu Phú B 1977 11,56 27.333 2365
P. Núi Sam 2002 13,97 21.241 1520
P. Vĩnh Mỹ 2003 7,8 14.870 1910
P. Vĩnh Ngươn 2013 9,46 6.019 636
X. Vĩnh Tế 2002 31,21 25.452 815
X. Vĩnh Châu 2003 21,68 3.357 155
Toàn TP
100.92 126593 1255
Tôn giáo
Gồm có Phật giáo, Công Giáo, Đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tin Lành, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hồi Giáo.

Giao thông vận tải

Thành phố Châu Đốc có hơn 15 km Quốc lộ 91 chạy ngang. Năm 2011, Bộ trưởng Bộ GTVT ký quyết định cho nâng cấp tỉnh lộ 956 tại An Giang ( nối Châu Đốc - Long Bình ) lên thành quốc lộ 91C . Đây là một thuận lợi để thành phố giao lưu, buôn bán với các địa phương trong tỉnh, trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và nước bạn Campuchia. Ngoài ra, còn có tuyến đường vành đai chạy qua ngoại ô. Khu vực trung tâm thành phố và khu Thương mại Dịch vụ (phường A, phường B,p hường Núi Sam) có hệ thông giao thông nội ô tương đối hoàn thiện.
                                                            Giao lộ Bạch Đằng-Chi Lăng
Thành phố có các tuyến đường nội ô gồm: Lê Lợi, Nguyễn Văn Thoại, Thủ Khoa Nghĩa, Thủ Khoa Huân, Bạch Đằng, Chi Lăng, Trưng Nữ Vương, Phan Văn Vàng, Núi Sam-Châu Đốc, Phan Đình Phùng, Hậu Miếu Bà, Cử Trị, Quang Trung.
Quy hoạch giao thông
Thành phố đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống giao thông nội ô,nâng cấp, mở rộng, nối dài các tuyến đường trong trung tâm thành phố. Thành phố sẽ nâng cấp Quốc lộ 91 từ 4 làn xe lên 10 làn xe.Quy hoạch tuyến N1 nối kết thành phố với các tỉnh,thành khu vực Nam Bộ. Trong tương lai gần sẽ có tuyến cao tốc Sóc Trăng - Cần Thơ - Khánh Bình đi qua thành phố.

Kinh tế

Nhà lồng chợ Châu Đốc
Kinh tế Châu Đốc tăng trưởng nhanh và mạnh.Năm 2012, tốc độ tăng trưởng GDP của thị xã Châu Đốc đạt 16,10%, thu nhập bình quân đầu người trên 35,36 triệu đồng, tổng vốn đầu tư phát triển gần 2.720 tỷ đồng, lĩnh vực thương mại- dịch vụ- du lịch tiếp tục phát huy thế mạnh, với mức tăng trưởng đạt 18,01% và chiếm 70,47% tỷ trọng cơ cấu kinh tế địa phương[Ngoài ra, thành phố cũng tập trung phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phường Vĩnh Mỹ, Vĩnh Châu,...
Thương mại-dịch vụ
Với tiềm năng là một thành phố du lịch nên thương mại-dịch vụ của thành phố là một ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế thành phố. Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, chợ, các trung tâm mua bán phân bố rộng khắp trên địa bàn thành phố. Hàng hóa phân bố rộng khắp đến các địa bàn trong thành phố. Dịch vụ nhà hàng khách sạn cũng phát triển,với một chuỗi các khách sạn, nhà hàng lớn như Victoria (4,5 sao), Châu Phố (3 sao), Bến Đá (3 sao), Đông Nam (2 sao), Song Sao (2 sao), Trung Nguyễn ( 2 sao ), Hải Châu (2 sao)...
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Đây không phải là một ngành trọng điểm của thành phố nhưng cũng đóng góp một phần vào sự phát triển của thành phố.Các cụm công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp được thành phố quan tâm đầu tư và phát triển đã giải quyết một phần cho lao đọng nhàn rỗi nông thôn.
Nông nghiệp
Đây là một ngành đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời ở thành phố.Loại hình nông nhgiệp đô thị là một thế mạnh của thành phố.Các cánh đồng đã được cơ giới hóa trong công tác trước,trong và sau thu hoạch do đó năng suất không ngừng tăng và chất lượng nông phẩm cũng tăng lên.

Du lịch

Đình thần Châu Phú
Các di tích danh thắng của thành phố Châu Đốc gồm:
Du khách có thể ghé chợ biên giới Tịnh Biên sát Campuchia cách thành phố khoảng 20 km; hàng hóa ở chợ này chủ yếu là những hàng từ Campuchia. Đặc sản địa phương gồm các loại mắm lóc, trê, thái,.... khô cá lóc, cá tra phồng, sặc bổi,... và đường thốt nốt. Châu Đốc được xem như một địa điểm mua sắm phong phú với những sản phẩm với xuất xứ từ Thái Lan, Malaysia,... Giá cả hàng hóa cạnh tranh một phần vì là hàng trốn thuế hoặc miễn thuế. Ngoài ra, trong khi Việt Nam cấm đánh bạc thì Campuchia lại cho phép đánh bạc. Cách thành phố Long Xuyên khoảng 54 km đi về hướng đông theo Quốc lộ 91, từ Châu Đốc vượt khoảng 30 km qua xã Khánh Bình, đi về bên kia biên giới chưa đầy 1 km là khách có thể đến các sòng bạc ở Campuchia.

Văn hóa

Thành phố Châu Đốc là trung tâm văn hóa của tỉnh An Giang cũng như vùng đồng bằng sông Cửu Long.[cần dẫn nguồn] Châu Đốc có khu danh thắng Núi Sam, với nhiều di tích văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó có miếu Bà Chúa Xứ. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được tổ chức hằng năm thu hút đông đảo du khách đến tham quan, cúng bái. Vùng đất giàu truyền thống này từng ghi đậm dấu ấn của các danh tướng Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại,... những bậc tiền hiền có công khai phá, mở mang bờ cõi, giữ vững biên cương cho Việt Nam.
Các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

Lăng Thoại Ngọc Hầu
Lăng Thoại Ngọc Hầu (quốc lộ 91, phường Núi Sam)

Giáo dục

Một số cơ sở giáo dục tại Châu Đốc
THPT Thủ Khoa Nghĩa
Quy hoạch phát triển giáo dục
  • Xây dựng Trường Cao Đẳng Quốc Tế Châu Đốc tại Vĩnh Mỹ

Y tế

Danh sách các cơ sở y tế ở Châu Đốc
Công trình bện viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang
  • Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh (500 giường). Địa chỉ: 917 Tôn Đức Thắng, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc
  • Bệnh viện Đa khoa Nhật Tân (200 giường). Địa chỉ: đường Phạm Ngọc Thạch, phường B
  • Bệnh viện thành phố Châu Đốc (150 giường). Địa chỉ: Quốc lộ 91, phường A
  • Bệnh viện Bình An (150 giường). Địa chỉ: đường Thủ Khoa Nghĩa, phường A

Dân số

Dân số năm 1999 là 112.155 người.Dân số năm 2013 là 157.297 người.

Các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở Châu Đốc

  • Dự án nâng cấp, mở rộng Tân Lộ Kiều Luơng (trục Châu Đốc - Núi Sam)
  • Dự án khu đô thị mới Thành phố lễ hội
  • Dự án trung tâm văn hóa - thể thao Châu Đố
  • Dự án khu đô thị Ngọc Hầu
  • Dự án biệt thự vườn Thoại Ngọc Hầu
  • Dự án cầu Châu Đốc (nối Châu Đốc - Tân Châu)

Các dự án mời gọi đầu tư trên địa bàn thị xã Châu Đốc


Cập nhật ngày: 31/12/2012 14:23:37

         Thị xã Châu Đốc là vùng sông nước, núi non hùng vĩ, với nhiều di tích văn hóa xếp hạng nên mục tiêu du lịch là: "Văn Hóa Du Lịch". Do đó, việc xây dựng và phát triển Châu Đốc thành đô thị văn minh, xanh, sạch, hiện đại và là trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch của tỉnh. Đồng thời, từng bước xây dựng thị xã trở thành cửa ngõ giao thương quan trọng của tỉnh và đồng bằng sông Cửu Long với Campuchia và các nước ASEAN, tăng nhanh thu nhập bình quân đầu người, nâng cao trình độ dân trí, giữ vững quốc phòng - an ninh biên giới.
 
Bản đồ quy hoạch xây dựng đợt đầu (5 năm), đề án nâng cấp Đô thi thị xã Châu Đốc.
 
 Bản đồ quy hoạch định hướng phát triển không gian đô thị Châu Đốc đến năm 2025.
 
 Bản đồ điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đến năm 2025 (định hướng phát triển không gian đô thị).
         Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TX. Châu Đốc lần thứ X, nhiệm kỳ 2010- 2015 đã định hướng: “Phát triển TX. Châu Đốc trở thành đô thị thương mại- du lịch của An Giang và vùng ĐBSCL. Đồng thời, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế địa phương chuyển dịch theo hướng thương mại- dịch vụ, công nghiệp- nông nghiệp, phát triển những ngành sản xuất và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của thị xã. Song song đó, phát triển kinh tế- xã hội gắn với phát triển đô thị, kết cấu hạ tầng, sớm đưa TX. Châu Đốc trở thành đô thị văn minh, hiện đại”. Chính vì thế, thời gian qua, địa phương đã quy hoạch hàng loạt dự án, tạo quỹ đất sạch, có những chính sách ưu đãi mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh tham gia đầu tư trên địa bàn, bước đầu đạt được nhiều kết quả phấn khởi. Để phát huy những thành quả đạt được, TX. Châu Đốc tiếp tục kêu gọi đầu tư 22 dự án trọng điểm, gồm:
TT
TÊN DỰ ÁN
ĐỊA ĐIỂM
QUY MÔ (ha)
VỐN ĐẦU TƯ (Tỷ đồng)
I
LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP- TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
1
Cụm công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
Xã Vĩnh Tế
80 ha
2.286
II
LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
2
Lò giết mổ gia súc, gia cầm
Phường B, Núi Sam, Vĩnh Mỹ
1-2 ha
29
III
LĨNH VỰC DỊCH VỤ- THƯƠNG MẠI
3
Chợ biên giới Vĩnh Ngươn
Xã Vĩnh Ngươn
10 ha
150
IV
LĨNH VỰC DU LỊCH- DỊCH VỤ
4
Khu du lịch sinh thái Nam sông Hậu
P.Vĩnh Mỹ
30 ha
180
5
Khu vui chơi giải trí nghỉ dưỡng TX. Châu Đốc
Phường B
70 ha
2.000
6
Khách sạn nổi trên sông Châu Đốc (tiêu chuẩn 3 đến 4 sao)
P. Vĩnh Mỹ
0,8 ha
50
7
Khu du lịch lòng hồ Trương Gia Mô
P. Núi Sam
02 ha
30
V
LĨNH VỰC DÂN CƯ THEO TRỤC GIAO THÔNG
8
Các dự án dịch vụ- thương mại- du lịch và dân cư đô thị (hai bên đường tránh QL91)
Phường B, Vĩnh Mỹ, Núi Sam, xã Vĩnh Tế
27,6 ha
586,68
9
Tuyến dân cư đường 30-4
Phường B
26,5 ha
26,6
10
Tuyến dân cư đường Nguyễn Trường Tộ nối dài
Phường B
3.11 ha
24,5
11
Tuyến dân cư đường số 1 (Đoạn Nguyễn Văn Thoại- Nguyễn Trường Tộ nối dài)
Phường B
5.16 ha
32,49
12
Tuyến dân cư đường số 2 (đoạn Nguyễn Văn Thoại- Trưng Nữ Vương)
Phường B
2,5 ha
15
13
Tuyến dân cư đường số 3 (Đoạn Nguyễn Văn Thoại- Nguyễn Trường Tộ nối dài)
Phường B
9,6 ha
60,85
14
Tuyến dân cư đường dẫn cầu Cồn Tiên (đoạn Cử Trị- Trường Đua- Hoàng Đạo Cật- Bến Dựa- Cống Dồn- Kênh 10- Quốc lộ 91)
Phường A, B, Núi Sam, xã Vĩnh Tế
28,56 ha
2,856
15
Tuyến dân cư đường giao thông (đoạn đường tránh QL91- khu dân cư khóm 8- Tỉnh lộ 55A)
Phường A và B
19,7 ha
244,51
16
Tuyến dân cư đường dự định 3 (đoạn Chợ Vĩnh Đông- đường tránh QL91)
Phường B
35 ha
118,24
17
Đường Phan Đình Phùng nối dài (từ Nguyễn Trường Tộ- Nguyễn Tri Phương)
Phường B
2,42 ha
242
18
Đường số 14 vào khu du lịch Vĩnh Mỹ (từ Tôn Đức Thắng- hương lộ 4 khu du lịch Vĩnh Mỹ)
P. Vĩnh Mỹ
42,78 ha
4,278
19
Đường số 15 (từ Tôn Đức Thắng- hương lộ 4 khu du lịch Vĩnh Mỹ)
P. Vĩnh Mỹ
1,14 ha
114
20
Đường Sương Nguyệt Ánh nối dài (từ đường Cử Trị- đường Trường Đua)
Phường A
2,09 ha
209
21
Đường số 04 (đường Thủ Khoa Huân- đường số 2)
Phường A và B
2,11 ha
211
22
Cầu Châu Đốc bắt qua sông Hậu
P. Vĩnh Mỹ
41 ha
106,96
Với mục tiêu: “Phát triển nhanh, toàn diện và bền vững” các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh; xây dựng thị xã Châu Đốc thành một địa phương phát triển toàn diện, nhanh và bền vững trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
 
 Bản đồ quy hoạch Đường Đỏ- Khu Di tích văn hóa lịch sử và du lịch Núi Sam TX. Châu Đốc.
 
 Bản đồ quy hoạch chi tiết khu dân cư khóm 1, 2, 3 phường Châu Phú A, TX. Châu Đốc.

 
 Bản đồ công trình hệ thống giao thông đường số 2, phường Châu Phú B, TX. Châu Đốc.
 
 Bản đồ tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan quy hoạch chi tiết khu dân cư Nam sông Hậu, phường Vĩnh Mỹ đến năm 2020.
       
Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững, tạo ra sự chuyển biến tích cực về chất lượng của sự phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào các hoạt động sản xuất, nhất là tiếp cận được trình độ tiên tiến. Hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở, mở rộng các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe người dân. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng hoàn chỉnh các thiết chế văn hóa, đa dạng hóa các loại hình vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của nhân dân. Không ngừng cải thiện đời sống, tiếp tục xóa đói giảm nghèo, đào tạo nghề, tạo thêm nhiều việc làm, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
 
 Bản đồ dự án đầu tư xây dựng khu tái định cư- thu nhập thấp khóm 8, phường Châu Phú A.
Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư phát triển nhằm thu hút mạnh mẽ vốn từ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư trên địa bàn. Tập trung mọi nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực về y tế, văn hóa, giáo dục, sắp xếp dân cư, chỉnh trang đô thị, cơ sở hạ tầng, … để thích ứng với tốc độ phát triển của thị xã.
 
 Bản đồ dự án khu dân cư Nam sông Hậu đến năm 2020 tại phường Vĩnh Mỹ.
Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cả giai đoạn 2011 – 2020 là 17,03%, trong đó thời kỳ 2011 – 2015 đạt 16,04%, thời kỳ 2016 -  2020 đạt 18,02%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo xu hướng khu vực I ngày càng giảm, khu vực II và III ngày càng tăng. Đến năm 2015 khu vực I: 6,59%, khu vực II: 23,73% và khu vực III: 69,68%; năm 2020 khu vực I: 3,28%, khu vực II: 24,22% và khu vực III: 72,5%.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 51,79 triệu đồng/người và năm 2020 là 112,83 triệu đồng/người theo giá thực tế.
Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 52% trong đó 42% đào tạo nghề, đến năm 2020 đạt 65% trong đó 43% đào tạo nghề.
Đảm bảo 100% các xã, phường có trạm Y tế, 43,43 giường bệnh công lập/vạn dân năm 2015 và 41,17 giường bệnh công lập/vạn dân năm 2020.
Nâng cao hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đảm bảo được an sinh xã hội, phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 1% và dưới 1% (theo chuẩn mới) năm 2020.
Nâng tỷ lệ hộ sử dụng điện trên địa bàn thị xã tính đến cuối năm 2015 là 99,7% và 99,9% số hộ sử dụng nước sạch đến năm 2020.
Đến năm 2010 thu gom và xử lý theo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường các loại rác thải đô thị, rác thải công nghiệp không độc hại đạt 65% và 80% đến năm 2015 và 80 – 90% đến năm 2020. Xử lý rác thải y tế đạt 100% và chất thải rắn độc hại trên 60% vào năm 2010, 80% vào năm 2015 và 100% vào năm 2020.
 
 Quy hoạch chi tiết phân lô cụm CN-TTCN phường Vĩnh Mỹ giai đoạn 2.
Trên đây chỉ là những khái quát về tiềm năng phát triển chung của thị xã Châu Đốc cũng như các định hướng kêu gọi đầu tư của các thành phần kinh tế tham gia vào các dự án phát triển du lịch & các lĩnh vực khác, nhất là khu vui chơi giải trí, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ du lịch cả trên bộ và sông nước cũng như các cơ sở hạ tầng dịch vụ khác. Chắc chắn rằng trong quá trình đầu tư cũng có nhiều thuận lợi, nhất là sự ủng hộ của Cấp uỷ, UBND thị xã Châu Đốc - Tỉnh An Giang. Song cũng có những mặt hạn chế khó khăn nhất thời không thể tránh khỏi, chúng ta sẽ cùng nhau ngồi lại giải quyết khó khăn đó nhất định sẽ thực hiện thành công dự án nếu chúng ta có quyết tâm làm.

Người phụ nữ thế chấp tính mạng 3đời thân tộc cứu dân


(Người nổi tiếng) - Vùng biên viễn Châu Đốc (An Giang) lâu nay nổi tiếng trong dân gian với những câu chuyện huyền thoại về Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu ở Núi Sam (hiện nay lễ hội Vía Bà diễn ra hàng năm ở đền thờ Bà tại chân Núi Sam đã trở thành lễ hội cấp Quốc gia, thu hút hơn 2 triệu du khách/năm).

 Nhưng lâu nay trong lòng người dân Châu Đốc còn lưu truyền những câu chuyện cảm động về một người phụ nữ dám đem tính mạng 3 đời thân tộc làm “tài sản thế chấp” để vay lúa của triều đình nhà Nguyễn cứu giúp dân nghèo trong những năm lụt lội đói khổ.

Người phụ nữ đó là bà Huỳnh Thị Phú, thuộc dòng tộc Lê Công nổi tiếng vùng biên giới.

Chấp nhận án “tru di tam tộc” để vay lúa cứu dân

Thị xã Châu Đốc (tỉnh An Giang) là một khu đô thị biên giới cổ kính có tuổi đời hàng trăm năm, nằm ngay ngã ba sông Châu Đốc, với nhiều dinh thự, đền đài xưa cũ.

Châu Đốc gắn liền với lễ hội Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu, đồng thời còn ghi dấu nhiều công trình khẩn hoang mở đất của các bậc danh nhân như Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Trụ Quốc công Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại, mà dấu tích đến ngày nay vẫn còn chính là con lộ Châu Đốc - Núi Sam và kênh Vĩnh Tế nổi tiếng, một hệ thống thủy lợi - biên phòng lâu đời nhất miền biên giới Tây Nam của Tổ quốc.

Trên vùng đất Châu Đốc, từ thời khẩn hoang lập ấp đã xuất hiện một dòng tộc nổi tiếng yêu nước thương dân, được triều đình nhà Nguyễn phong tặng danh hiệu “Tiền hiền, Hậu hiền” của làng Châu Phú (bao gồm cả Châu Đốc ngày nay) và giao nhiệm vụ thờ tự, cúng giỗ Thượng đẳng đại thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh tại vùng Châu Phú, Châu Đốc, đó là dòng họ Lê Công.
Một góc Lê Công phủ đã 100 năm tuổi ở Châu Đốc.
Một góc Lê Công phủ đã 100 năm tuổi ở Châu Đốc.
Theo ghi chép của gia tộc và những câu chuyện do dân gian truyền tụng thì dòng họ Lê Công đã có mặt tại trấn Châu Đốc từ những ngày đầu khẩn hoang mở đất (khoảng năm 1785 đến 1837).

Ông tổ của dòng họ Lê Công là ông Lê Công Thoàn. Dòng họ Lê Công có gốc tích ở Thanh Hóa, do loạn lạc và mùa màng thất bát, cuộc sống khó khăn nên ông Lê Công Thoàn dẫn dắt bầu đoàn thê tử di cư vào Nam tìm đất khẩn hoang lập nghiệp trong những năm đầu thế kỷ XVIII.

Theo các tư liệu còn ghi chép thì lúc đầu ông Lê Công Thoàn và gia quyến lưu lạc đến lập nghiệp ở đất Long Hồ (thuộc tỉnh Vĩnh Long ngày nay), sau đó không hiểu vì lý do gì họ lại rời bỏ vùng đất quanh năm cây lành trái ngọt ở Long Hồ để đưa nhau đi ngược sông Tiền, trôi dạt qua sông Hậu và đến định cư, khai hoang lập ấp ở vùng Châu Đốc ngày nay.

Thời dòng tộc Lê Công đến vùng Châu Đốc, vùng đất này còn hoang sơ, rừng rú rậm rạp “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”.

Qua nhiều đời con cháu tiếp nối nhau khai khẩn Châu Đốc, dòng tộc Lê Công trở thành một họ lớn ở miền biên viễn, nổi tiếng vì đã có nhiều công lao trong việc xây dựng vùng đất này trở nên trù phú, hiến đất xây dựng trường học, chợ búa và nhà thương từ khi còn là trấn Châu Đốc của nhà Nguyễn cho đến thời Pháp thuộc.

Cũng có chuyện kể rằng, dòng họ Lê Công thuộc dòng dõi của Lê Lai, người đã liều mình đổi Long bào của Vua Lê Lợi để hy sinh cứu Vua Lê thoát khỏi vòng vây của quân Minh. Đến khi nhà Nguyễn cầm quyền, dòng họ Lê Công có một người thân làm quan đến chức thượng thư trong triều đình Huế.

Khoảng năm 1734-1735, ông thượng thư họ Lê Công được triều đình cử đi kinh lược xứ Nam Kỳ, có dẫn theo một số người thân trong dòng học, trong đó có ông Lê Công Thoàn.

 Khi đoàn quân binh của quan thượng thư đi đến vùng biên giới Châu Đốc, ông Lê Công Thoàn thấy vùng này tuy hoang vu nhưng tôm cá, sản vật dồi dào, đất đai màu mỡ nên đã ở lại và sau đó đưa thân nhân từ miền ngoài vào hợp lực khai phá đất đai, khẩn hoang lập ấp.

Những câu chuyện còn ghi lại của dòng họ Lê Công và những giai thoại dân gian vùng Châu Đốc kể rằng, trong dòng họ Lê, ngoài ông tổ Lê Công Thoàn có nhiều công lao khai khẩn vùng biên được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận công đức và ban chiếu sắc phong chức “Tiền hiền” làng Châu Phú, ông Lê Công Bích là người được triều đình phong chức vụ “Tổng binh” nắm binh quyền, lo việc giữ yên bờ cõi. Dù nắm chức Tổng binh nhưng ông Lê Công Bích là một người nổi tiếng thương dân.

Do lập được nhiều công lao trong việc giữ yên biên cương phía Tây Nam của Tổ quốc nên sau khi mất, ông Lê Công Bích được triều đình nhà Nguyễn phong là "Hậu hiền" làng Châu Phú.

 Nhưng người nổi tiếng nhất của dòng họ Lê Công chính là bà Huỳnh Thị Phú, người được dòng tộc tôn xưng là một trong những bà tổ của dòng họ, người có công lao lớn nhất trong họ tộc.

Không thấy tài liệu ghi bà Huỳnh Thị Phú là vợ của ông nào trong dòng họ Lê Công, sinh năm nào, mất năm nào, nhưng có một tài liệu ghi rằng: “Khoảng năm 1820 đến năm 1829 khi Trụ Quốc công Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại làm trấn thủ Châu Đốc, ông đã đứng ra khởi công xây dựng đình Châu Phú để thờ Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.

Ban đầu đình Châu Phú tọa lạc trong một khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, nhiều bóng cây cổ thụ, mặt chính nhìn ra dòng sông Hậu.

 Sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép về ngôi đình này như sau: “Đền Lễ Công ở thôn Châu Phú, huyện Tây Xuyên, thờ Nguyễn Hữu Kỉnh (Cảnh). Đền do Nguyễn Văn Thụy (tức Thoại Ngọc Hầu) dựng khi làm Trấn thủ, nay hương lửa vẫn như cũ, thường tỏ anh linh...”.

Đây là ngôi đền được liệt vào danh mục thờ tự chính thống, phụng tự theo quốc điển thời nhà Nguyễn.

Đến thời Pháp thuộc, như nhiều đền thờ khác, Đền Lễ Công cũng bị đình hóa trở thành đình thờ thần của làng với tên gọi mới là Đình Châu Phú.

Nhưng đến năm 1926, nhà cầm quyền Pháp ở tỉnh Châu Đốc quyết định di dời ngôi đình để lấy đất xây dựng một bệnh viện (hiện nay là Bệnh viện thị xã Châu Đốc).

Khi đó bà Huỳnh Thị Phú của dòng họ Lê Công và Hương chủ Lan, một đại điền chủ ở vùng Châu Đốc, đứng ra vận động nhân dân đóng góp tiền của để chuyển ngôi đình đến đầu chợ Châu Đốc tọa lạc cho đến ngày nay, thuộc phường Châu Phú A thị xã Châu Đốc.

Cho đến nay ngôi đình do bà Huỳnh Thị Phú vận động di dời vẫn giữ nguyên nét đồ sộ và cổ kính. Như vậy cho đến năm 1926, bà Huỳnh Thị Phú vẫn còn tại thế dù không thấy tài liệu nào ghi lúc đó bà đã thọ được bao nhiêu tuổi.
Bàn thờ chính nơi có bài vị thờ bà Huỳnh Thị Phú, phía trên cùng là nơi thờ Thượng đẳng Đại thần Nguyễn Hữu Cảnh.
Bàn thờ chính nơi có bài vị thờ bà Huỳnh Thị Phú, phía trên cùng là nơi thờ Thượng đẳng Đại thần Nguyễn Hữu Cảnh.
Người ta kể rằng, lúc còn sinh thời, bà Huỳnh Thị Phú là 1 người hết mực thương yêu dân nghèo trong vùng.

 Hồi đó vùng Châu Đốc chỉ toàn là rừng rậm, đầm lầy lau sậy, bưng trấp hoang vu và rất nhiều thú dữ, không làng, không xóm, chỉ có một cái đồn cheo leo của triều đình lập ra tại trấn này để canh giữ vùng biên cương.

Lúc bấy giờ, thành Châu Phú do các quan võ của triều đình và vài trăm quân lính trông coi. Hồi đó trong những lần đi thăm điền đất, bà Huỳnh Thị Phú đã chứng kiến cảnh nhiều người dân nghèo bị bệnh nhưng không có thầy thuốc chạy chữa nên phải chết oan ức.

Sau nhiều ngày đêm suy tính, cuối cùng bà Huỳnh Thị Phú quyết định bỏ tiền xây một nhà trị bệnh, rước danh y từ các nơi về trả lương bổng hậu hĩnh để họ an tâm lo việc chẩn trị, bốc thuốc miễn phí, trị bệnh cho dân nghèo quanh vùng Châu Phú - Châu Đốc, từ đó cứu mạng được rất nhiều người.

Sau khi lo xong việc trị bệnh cho dân, bà Huỳnh Thị Phú nhận thấy trẻ em trong vùng Châu Đốc đều thất học do không có trường lớp, từ đó không biết lễ nghĩa, nên bà quyết định bỏ tiền, hiến đất mở lớp học, xây trường, rước thầy giáo từ nơi khác về để dạy chữ Nho cho con em dân nghèo trong vùng, khiến nhiều người rất cảm kích.

Thời xưa vùng biên viễn Châu Đốc thường xảy ra động binh do giặc từ bên kia biên giới kéo sang cướp phá, nhiều khi giặc cướp từ các nơi tụ về hoành hành khiến quan quân đồn trú phải vất vả đánh dẹp.

Những lúc biên giới xảy ra chiến tranh ly loạn thì dân tình lao đao khốn khổ, đời sống khó khăn túng thiếu vì không ai dám ra đồng làm ruộng, nhiều gia đình phải lâm cảnh ly tán.

Có rất nhiều trường hợp những gia đình nông dân nghèo khó trong vùng chiến tranh loạn lạc không đủ gạo nuôi con, đành nhắm mắt gạt lệ đem con thả vào rừng cho thú dữ ăn thịt.

Gia đình nào không đành lòng bỏ con vào rừng thì đóng bè bằng cây chuối rồi buộc con cái vào bè, sau đó thả trôi theo dòng nước sông Hậu để  mong có người cứu giúp con cái họ thoát cảnh chết đói hoặc chết chìm dưới lòng sông lạnh.

Những trường hợp như vậy, khi được gia nhân hoặc người dân trong vùng báo tin, bà Huỳnh Thị Phú đều tức tốc cho người vào rừng tìm những đứa trẻ vô phúc hoặc bơi thuyền ra sông Hậu tìm vớt những đứa trẻ bị thả trôi sông đem vào một ngôi nhà chung nuôi ăn học tử tế.

 Từ việc làm nhân nghĩa của bà Huỳnh Thị Phú, sau này những gia đình nghèo khó không khả năng nuôi con không còn đem con cái bỏ vào rừng hoặc đóng bè thả trôi sông mà đem con đến nương nhờ người phụ nữ tốt bụng.

Nhưng câu chuyện được người ta nhớ nhiều nhất là việc bà Huỳnh Thị Phú dám mang sinh mạng của hàng trăm người trong 3 đời dòng tộc ra làm “tài sản thế chấp” với triều đình Huế để vay lúa cứu giúp dân nghèo khỏi lâm cảnh chết đói trong cơn lụt lội.

Người ta kể rằng vùng Châu Đốc xưa năm nào cũng bị lũ lụt tràn ngập từ tháng 7 đến tháng 11 Âm lịch, do dòng nước từ thượng nguồn phía Campuchia tuôn theo sông Hậu, kênh Vĩnh Tế vào vùng Châu Đốc gây ngập lụt ruộng đồng, nhà cửa.

Vào mùa lụt lội kéo dài mấy tháng trời, trên đồng nước ngập sâu 4 - 5 mét khiến người dân phải bỏ nhà cửa, đùm túm nhau đến những nơi khô ráo như Núi Sam và các ngọn núi lân cận để chạy lụt.

Nước ngập quá sâu nên không thể làm ruộng được, mùa nước lụt kéo dài 5 - 6 tháng, những người dân nghèo chạy lụt đều lâm cảnh đói kém, không có lúa gạo để cầm cự qua ngày.

Năm nào lũ lụt hoành hành khiến nhiều người dân lâm cảnh thất mùa, đói khát, khi nghe gia nhân báo tin, bà Huỳnh Thị Phú tức tốc sai người mở kho lúa của gia đình để cứu tế cho dân nghèo.

Nhưng kho lúa của gia đình có hạn, trong khi số người nghèo đói mỗi ngày một tăng do nước ngập tràn đồng lâu ngày, nên sau nhiều ngày suy đi tính lại, bà Huỳnh Thị Phú đã quyết định làm đơn xin vay lúa của triều đình nhà Nguyễn để cứu tế dân nghèo.

Thời đó ở thành Châu Đốc có một kho dự trữ lương thực của triều đình nhà Nguyễn để phòng khi có giặc ngoại xâm, việc sản xuất bị trở ngại thì quân binh có lương thực để đủ sức đối phó với quân giặc, bảo vệ biên cương.

Nếu vùng biên cương yên ổn, quan binh trong thành tuyệt đối không được mở kho lương nếu không có lệnh của triều đình nhà Nguyễn, ai vi phạm sẽ mang tội chết.

Nhưng trước tình cảnh dân chúng trong vùng và nhân công khẩn hoang lập ấp đói ăn do lụt lội, bà Huỳnh Thị Phú đã nhiều lần dâng sớ tâu rõ sự tình thương tâm và đứng ra chịu trách nhiệm, xin vay lúa của triều đình nhà Nguyễn trong kho Châu Đốc để cứu tế cho dân nghèo qua cơn nguy khốn.

 Khi nhận “sớ vay lúa” của bà Huỳnh Thị Phú, quan binh trong thành Châu Đốc rất cảm kích trước tấm lòng thương dân như con của người phụ nữ thuộc dòng tộc Lê Công, nhưng họ tuyệt đối không dám làm trái lệnh triều đình mở kho xuất lúa cứu dân.

Các quan trấn giữ thành Châu Đốc chỉ có thể xác nhận việc dân nghèo trong vùng đói kém do lụt lội là có thật và việc bà Huỳnh Thị Phú vay lúa cứu dân là chuyện cấp thiết, sau đó chuyển “sớ vay lúa” của bà về cấp trên giải quyết.

Thời đó giao thông liên lạc khó khăn, công văn thư từ (và cả “sớ vay lúa” của bà Huỳnh Thị Phú) từ thành Châu Đốc phải dùng ngựa trạm, ngày đi đêm nghỉ chuyển về thành Gia Định, từ đây công văn giấy tờ lại tiếp tục được chuyển về triều đình Huế cũng bằng ngựa trạm, cả hai lượt đi về mất thời gian mấy tháng trời.

 Trước tình cảnh đó, bà Huỳnh Thị Phú phải thực hiện kế sách: khi nước lụt bắt đầu tràn xuống thì bà viết “sớ vay lúa” gửi triều đình Huế.

 Trong thời gian tờ sớ được chuyển đi từ Châu Đốc ra đến Huế và chờ phê duyệt rồi đưa trở về Châu Đốc thì bà Phú cho mở kho lúa của gia đình cứu tế dân nghèo.

Đến khi “sớ vay lúa” được triều đình phê duyệt chuyển về đến thành Châu Đốc thì lúa trong kho gia đình vừa hết, lúa đó tiếp tục lấy lúa trong kho của thành Châu Đốc cứu dân.

Từ lâu đã nghe uy tín, công đức của bà Phú và gia tộc Lê Công đối với dân nghèo nên khi nhận được “sớ vay lúa” của bà Phú thì triều đình nhà Nguyễn chấp thuận mở kho lúa thành Châu Đốc cho bà Phú vay để cứu dân nghèo trong cơn lụt lội.

Tuy nhiên triều đình Huế ra một điều kiện ngặt nghèo: bà Huỳnh Thị Phú phải làm cam kết trả lúa đúng hạn vào mùa lúa năm sau. Nếu không trả đủ lúa theo cam kết thì bà Phú và gia tộc Lê Công sẽ mắc tội với triều đình và phải chịu án “tru di tam tộc”.

Trước điều kiện ngặt nghèo của triều đình nhà Nguyễn, nhiều người trong gia tộc Lê Công đã hết sức hoang mang, lo lắng vì sợ năm sau mùa màng thất bát, không đủ lúa trả cho vua thì cả dòng họ sẽ bị xử chết.

 Nhưng bà Huỳnh Thị Phú vẫn bình tĩnh khuyên mọi người trong gia tộc đừng hốt hoảng và bà mạnh dạn cam kết chịu trách nhiệm trả đủ lúa cho triều đình.

Người dân Châu Đốc kể rằng, sau khi nước lũ rút đi, người dân nghèo vì cảm kích trước tấm lòng thương dân của bà Huỳnh Thị Phú nên ra sức cày cấy trên đồng ruộng, cộng thêm lớp phù sa màu mỡ do nước lụt để lại nên năm nào cũng trúng mùa, giúp bà Phú có đủ lúa trả cho triều đình không thiếu một cân.

Những năm sau đó vào khoảng tháng 6, tháng 7 nếu nhìn thấy những hiện tượng thời tiết bất thường cho thấy khả năng sẽ có lụt lớn xảy ra, dân tình đói khổ là bà Huỳnh Thị Phú sai gia nhân đi một vòng trong vùng Châu Phú - Châu Đốc thống kê sơ bộ số dân nghèo cần cứu tế, sau đó viết “sớ vay lúa” gửi ra triều đình Huế.

Do bà Phú giữ uy tín, năm nào cũng trả đủ lúa vay nên triều đình nhà Nguyễn sẵn sàng mở kho cho bà vay lúa cứu dân nghèo. Tuy nhiên chưa bao giờ triều đình bỏ “điều kiện thế chấp” là án tru di tam tộc khi phê duyệt cho bà Huỳnh Thị Phú vay lúa cứu dân.

Người ta còn kể rằng, ngoài việc cứu giúp dân nghèo, bà Huỳnh Thị Phú còn là người sáng suốt minh mẫn, có đức độ và am hiểu nhiều việc thế sự.

Chính vì vậy mà trong cuộc sống hàng ngày bà Phú đã đóng góp nhiều sáng kiến hay để giải quyết tốt đẹp mọi việc rắc rối, tranh tụng của dân vùng Châu Phú - Châu Đốc thời đó.

Những việc làm nhân đức cũng như công lao khai hoang lập ấp, mở rộng đất đai canh tác, nỗ lực cải thiện cuộc sống cho cộng đồng của các vị tổ tiên tộc họ Lê Công và bà Huỳnh Thị Phú tại vùng Châu Phú - Châu Đốc đã được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận và ban thưởng xứng đáng.

Ngoài việc phong hai ông Lê Công Thoàn, Lê Công Bích làm “Tiền hiền, Hậu hiền” của làng Châu Phú, triều đình nhà Nguyễn còn dành cho tộc họ Lê Công ở Châu Đốc một vinh dự khác là ban chiếu chỉ triệu họ về Huế tiếp nhận sắc phong của Thượng đẳng Đại Thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh về Lê Công phủ thờ tự, cúng giỗ.

Trong chiếu chỉ vua ban ghi rõ: “Vì tưởng nhớ công cao dày đức trọng của ông Nguyễn Hữu Cảnh ba lần đem quân dẹp giặc Cao Miên xâm lấn biên giới và lập công cuộc bảo hộ đất Miên, sắc này đã lập và phong chức Đại Thần từ đời vua Minh Mạng nhưng lựa không được người xứng đáng để thờ vị Thượng đẳng Đại thần nầy. Sau còn phong chức Lễ Thành Hầu tất cả là hai chức.

Xét vì ông Lê Công Thoàn có công lao khó nhọc khai hoang lập ấp và lập làng Châu Phú.

Ông Lê Công Bích nối tiếp cha khai cơ lập nghiệp cho dân, làm quan Tổng Binh công bằng chính trực, biết thương dân. Nay hai ông xứng đáng được thờ vị linh thần này.

Còn nghi thức tế lễ được đúng quy cách thì họ Lê Công phải đảm nhiệm và sau này phải phái người đến triều đình (bộ Lễ) đặng học nghi cách theo cuộc tế lễ Nam Giao”.

Vì vậy mà ngày nay trên bàn thờ chính giữa Lê Công phủ vẫn còn thờ Thượng đẳng Đại thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.

Những di tích còn lại của họ Lê Công

Hiện nay ngoài những câu chuyện thú vị về dòng họ Lê Công và người phụ nữ một lòng vì dân Huỳnh Thị Phú, di tích còn lại của dòng họ này là một tòa nhà đồ sộ là phủ thờ của dòng họ Lê Công (mà người dân thường gọi là Nhà Lớn), tọa lạc trên đường Lê Lợi thị xã Châu Đốc, mặt tiền ngôi phủ thờ quay ra ngã ba sông về hướng thị xã Tân Châu.

Ngôi phủ thờ dòng họ Lê Công tính đến nay đã được tròn trăm tuổi, được khởi công xây dựng vào năm 1908 và hoàn thành năm 1912, trong khuôn viên khoảng một mẫu đất (10.000m2).

Theo tài liệu của gia tộc Lê Công thì ngôi nhà do bà Lê Thị Hạnh cho xây dựng từ năm 1908 đến năm 1912. Bà Hạnh là con của ông Lê Công Thành, con trai của cụ tổ Lê Công Thoàn. Để cung cấp vật liệu cho quá trình xây nhà, bà Hạnh cho thành lập một số cơ sở riêng chuyên sản xuất gạch ngói, gạch lát nền.

Một số vật liệu khác thì được mua từ bên Pháp. Trong chiến tranh chống Pháp, có lần ngôi Lê Công phủ bị trúng bom hư hại nặng, sau đó được sửa chữa lại. Từ đó đến nay ngôi từ đường của họ Lê Công đã trải qua hai lần trùng tu: năm 1984 làm lại mái và trần nhà, năm 2004 làm lại hàng rào và sơn vách.

Theo giới am hiển về kiến trúc, hiện nay giá trị của ngôi nhà cổ Lê Công phủ không chỉ ở tuổi thọ của công trình mà còn quý hiếm vì nội thất cổ xưa và giá trị tinh thần được tôn vinh, bảo tồn của một dòng họ ở Châu Đốc.

Dáng vẻ kiến trúc bên ngoài ngôi nhà trông tựa như những tòa nhà của người Pháp xây dựng ở Việt Nam thời xưa, nhưng bên trong mang đậm kiến trúc thuần Nam Bộ.

Mái nhà theo kiểu “bánh ếch” (bốn mái, lợp ngói, có mái ở giữa cao như chiếc bánh ếch ngày xưa hay gọi nay thường gọi là “bánh ít”) với ba gian hai chái. Mặt tiền nhà có 3 cửa chính, vách được xây bằng gạch.

Hành lang bao quanh rộng ba mét với những ô cửa mái vòm thông gió có lợp ngói, nền nhà được bao quanh bằng đá tổ ong.

Bên trong là những bộ bàn ghế cẩn ốc xà cừ, mặt ghế và lưng tựa ốp phiến đá cẩm thạch trông sang trọng, nơi ngày xưa chỉ những vị khách quan trọng mới được mời ngồi bộ ghế này.

Nhìn thẳng vào bên trong là ba bàn thờ lớn. Chính giữa là bàn thờ cửu huyền thất tổ của dòng họ và ông bà tổ (trong đó có bàn thờ bà Huỳnh Thị Phú), hai bên thờ các vị tổ kế tiếp.

Trước 3 bàn thờ này là 3 tủ thờ bằng gỗ cẩm lai có cẩn ốc xà cừ rất đẹp, chạm trổ hết sức công phu hình ảnh tích truyện Tam Quốc Chí của Trung Quốc. Hình ảnh được chạm khắc và cẩn nổi rõ từng ngọn cỏ, cờ xí các trận đánh như trận Xích Bích, cảnh Quan Công phục binh đón Tào Tháo…

Tất cả đều do thợ lành nghề được rước từ miền Bắc vào làm. Kèo, đòn tay, cột, trần la - phông cũng toàn bằng gỗ quý.

Trên cùng là nơi thờ sắc thần của Thượng đẳng Đại thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.

Muốn đi lên chỗ để sắc thần có một cầu thang riêng biệt và chỉ có những người có trách nhiệm mới được bước lên nơi thiêng liêng đó. Theo giới chuyên môn, Lê Công phủ là 1 di tích độc đáo cần được bảo tồn, gìn giữ.
                                
  • Thường Dân